Tôm sú

450.000 

Tôm sú là loài tôm có kích thước lớn nhất trong họ tôm he. Tăng trưởng nhanh, thịt ngon. Tôm sú là loại tôm có giá trị trong số các loài tôm biển Việt Nam.

Category:

Mô tả

Mô tả tôm sú:

Chủy tôm sú: Nằm ngang, phần cuối thô dày và hơi cong lên, dày đến cuối cuống râu I. Mép trên có 7 – 8 răng, mép dưới có 2 – 3 răng (thường gặp tỷ lệ 7/3 răng) phần sau gờ chủy có rãnh giữa.

Vỏ đầu ngực: Gờ sau chủy hầu như kéo dài đến mép sau vỏ đầu ngực. Gờ bên chủy thấp, kéo dài đến phía dưới gai trên dạ dày. Gờ gan rõ, thẳng.

Phần bụng: Từ giữa đốt bụng IV đến đốt VI có gờ lưng. Đốt đuôi hơi dài hơn đốt VI, không có gai bên.

Các chi: Gai cuống râu I kéo dài đến giữa đốt thứ I, nhánh phụ trong đến hoặc vượt quá đốt I cuống râu I. Sợi ngọn râu I ngắn, sợi ngọn dưới bằng khoảng 2/3 vỏ đầu ngực, sợi ngọn trên ngắn hơn sợi ngọn dưới.

Túi chứa tinh: Nằm ở giữa đôi chân bò IV, vôi hóa, viền quanh có nhiều lông cứng. Túi nhận tinh dạng đĩa, chiều rộng lớn hơn chiều dài, mép rãnh giữa dày hình thành môi.

Bộ phận chuyển túi tinh: u đỉnh phiến lưng giữa nhỏ, phiến bên tương đối rộng và vượt quá đĩnh phiến giữa, đỉnh tròn có gai nhỏ.

Màu sắc:

Thân tôm sú có màu nâu lục, các vân ngang màu vàng nâu nhạt. Chân bơi màu lam nhạt, viền lông màu hồng.

Kích thước:

Tôm Sú là loài tôm biển có kích thước và khối lượng lớn nhất trong họ tôm He. Đã phát hiện con lớn nhất đạt 320 mm, nặng 380 g.

Sinh học – sinh thái:

Tôm Sú tự nhiên phân bố rộng ở ven biển Việt Nam, nhưng chủ yếu ở Miền Trung, sau đến các vùng biển ở Nam Bộ. Chất đáy thích hợp là bùn, hoặc bùn cát, thích ứng với độ mặn 10 – 35‰.

Đàn tôm khai thác tự nhiên có kích thước trung bình 160 – 190 mm.

Mùa đẻ kéo dài quanh năm. Với công nghệ sản xuất giống nhân tạo hiện nay, con người có thể chủ động tạo đàn tôm mẹ thành thục trong điều kiện nuôi nhốt. Sức sinh sản thực tế thường từ 500.000 – 1.000.000 trứng, cá thể lớn thường có nhiều trứng hơn. Khi thành thục buồng trứng có màu xanh đậm. Điều kiện sinh sản thích hợp là nhiệt độ 26 – 30°C và độ mặn trên 32‰.

Thức ăn của tôm sú biến đổi theo các giai đoạn phát triển. Các giai đoạn ấu trùng chủ yếu ăn sinh vật nổi. Tôm con và tôm lớn ăn sinh vật đáy là chính. Tôm con thường sống ở vùng ven bờ, cửa sông có nhiều thức ăn, khi trưởng thành chuyển dần ra khơi để sinh sản.

Phân bố:

– Thế giới: Các vùng biển phía đông Châu Phi, Pakistan, Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Australia, Malaysia.

– Việt Nam: Tôm sú phân bố khắp ven biển đều có nhưng số lượng nhiều ở vùng biển Miền Trung.

Giá trị sử dụng:

Tôm sú là loài tôm có kích thước lớn nhất trong họ tôm he. Thịt thơm ngon, thích ứng rộng với môi trường, lớn nhanh. Có điều kiện trở thành mặt hàng tươi sống trên thị trường, đặc biệt có giá trị xuất khẩu. Tôm sú không những là đối tượng để khai thác mà còn là đối tượng nuôi chủ yếu của nước ta và nhiều nước Đông Nam Á. Riêng tôm nuôi, theo số liệu của Bộ Thủy sản năm 1995 đã đạt 5 vạn tấn, trong đó tôm sú là chính.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Tôm sú”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Post comment