Tôm tích

750.000 

Tôm tích là loại tôm biển có nhiều tên gọi như tôm tít, bề bề, tôm thuyền hay tôm búa. Đây là loài tôm có thịt dai, thơm ngon và rất có giá trị.

Category:

Mô tả

Tôm tích hay tôm tít, bề bề, tôm búa, tôm thuyền là tên gọi chung mà ngư dân dùng để chỉ 2 loại tôm tích thường gặp. Cũng như tôm sú, tôm tích là loại có giá trị thực phẩm tại Việt Nam. Hai loại đó là tôm tích bọ ngựa (tôm tích vạch) và tôm tích vằn.

Tôm tích bọ ngựa (tôm tích vạch)

tôm tích bọ ngựa

Đặc điểm hình thái:

Vỏ đầu ngực: Phiến chủy tôm tích bọ ngựa hình tam giác, mặt lưng nhẵn. Mặt lưng vỏ đầu ngực không có gờ giữa. Hai góc bên trước vỏ đầu ngực đều có một gai. Mấu bên của đốt ngực V có một thuỳ, còn ở đốt ngực VI và VII không phân thành thuỳ rõ rệt.

Các đốt bụng: mặt lưng của 5 đốt bụng trước không phân thành gờ giữa và gờ phụ giữa.

Đốt đuôi: có nhiều gờ lưng, mặt bụng của đốt đuôi có gờ hậu môn.

Các chi: Phiến xúc biện của răng lớn có 3 đốt. Chân hàm II (chân móc, chân bắt mồi: Raptorial claw): đốt ngón có 6 răng. Mép lưng đốt bàn có gờ, cuối gờ hình thành gai. Điểm rộng nhất đốt bàn của con đực trưởng thành ở vị trí đỉnh, gai đốt ngón thô, nhưng điểm rộng nhất đốt bàn của con đực chưa trưởng thành và con cái ở vị trí gần gốc.

Phân bố:

Thế giới: Biển Đỏ, Trung Quốc, New Caledonia, Australia, Philippines, Malaysia.

Việt Nam: từ vịnh Bắc bộ tới biển Nam bộ Việt Nam.

Sinh học – sinh thái:

Sống ở độ sâu từ 10 – l00 m, thường gặp ở độ sâu 15 – 25 m, đáy bùn cát.

Mùa vụ khai thác: Quanh năm

Kích thước khai thác: 5 – 8cm.

Khả năng nuôi: Đây là loài tôm biển có thể nuôi trong lồng ở ven biển

Ngư cụ khai thác: Lưới tôm, lưới kéo.

Dạng sản phẩm: sống, tươi, đông lạnh.

Tôm tích vằn

tôm tích vằn

Đặc điểm hình thái

Vỏ đầu ngực: Dạng hình thang. Mép sau lõm, mép trước thẳng. Rãnh dạ dày, rãnh bên rõ nhưng rãnh dạ dày rộng hơn. Cánh bụng của đốt ngực thứ VIII thấp, tròn và không gai.

Chủy dạng tim, bề rộng rộng hơn bề dài; nửa phần trước có gờ giữa nhưng 2 bên gờ không có rãnh.

Mắt: Lớn, giác mạc 2 thùy và rộng hơn cuống nhiều. Mắt không vượt quá cuối đốt thứ II của cuống râu I; phiến vảy mắt dạng tam giác, đỉnh nhọn, uốn cong về phía trước.

Râu: Cuống râu I ngắn, khoảng 1/2 chiều dài vỏ đầu ngực. Râu II có phiến vảy rộng, hình trứng, chiều dài gấp 2 lần chiều rộng và có những chấm đen; cuống đạt đến hoặc hơi vượt quá mắt, phần gốc có mép trước thẳng, không phát triển thành gai; có 3 gai thịt: 1 ở giữa và 2 ở bụng.

Chân bắt mồi: Đốt ngón thường có 9 – 11 răng, ở con cái trưởng thành số răng có ít hơn, mép ngoài có răng cưa mịn. Gần đầu đốt bàn có ít lông. Những răng mặt lưng đốt khuỷu không xiên vào giữa bụng. Có xúc biện hàm và nhánh bên.
Đốt bụng: Láng, không có gai. Vùng gần giữa đốt thứ VI phân biệt với bướu bên bằng 1 rãnh dọc; ngay trước khớp nối của mỗi chân đuôi và đốt thứ VI có 1 mấu lồi thon dạng tam giác.

Đuôi: Bề rộng rộng hơn bề dài. Mặt lưng lõm, giữa có bướu thấp dạng tam giác và 2 bên có bướu bên thấp hình trứng. Mép sau có 4 cặp mấu nhô ra, 2 căp ngoài cùng phát triển nhất. Đỉnh của nhánh trong chân đuôi có màu đen. Thân có vằn ngang xen kẽ màu vàng – đen.

Kích thước:

Chiều dài thân con đực lớn nhất 317 mm, con cái: lớn nhất 300 mm

Kích thước khai thác: 12 – 22 cm.

Sinh học – sinh thái:

Tôm tích vằn sống ở đáy bùn hoặc cát bùn, độ sâu 8 – 25 m.

Phân bố:

Thế giới: Từ các vùng biển Nhật Bản, Đài Loan đến phía tây Ấn Độ Dương.

Việt Nam: Đà Nẵng, Quảng Nam, vịnh Nha Trang (Khánh Hòa).

Ngư cụ khai thác: Lưới kéo.

Khả năng nuôi: không.

Giá trị sử dụng: Thực phẩm.

Dạng sản phẩm: Tươi, đông lạnh.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Tôm tích”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Post comment